BÀI GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG 03/2026
CUỐN SÁCH: NGUYỄN THỊ MINH KHAI
“ NGƯỜI CHIẾN SĨ CÁCH MẠNG QUẢ CẢM”
Đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai
tên thật là Nguyễn Thị Vĩnh, sinh ngày 1/11/1910 tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ
An, trong một gia đình công chức nhỏ. Năm 1924, Nguyễn Thị Minh Khai chuyển
sang học lớp Nhất trường Cao Xuân Dục. Tại đây, đồng chí được thầy giáo Trần
Phú dạy học và giác ngộ cách mạng.
Từ đó, Nguyễn Thị Minh Khai tích cực tham gia
các phong trào đấu tranh tại quê hương như: vận động học sinh bãi khóa, biểu
tình đòi ân xá cho cụ Phan Bội Châu, truy điệu cụ Phan Chu Trinh…
Sau một thời gian được tuyên truyền, huấn
luyện và thử thách, năm 1927, Nguyễn Thị Minh Khai được giới thiệu vào Hội Hưng
Nam, sau này là Tân Việt Cách mạng Đảng - một trong những tổ chức tiền thân của
Đảng Cộng sản Việt Nam, rồi được bầu vào Ban Chấp hành tỉnh bộ Nghệ An, phụ
trách công tác phụ nữ.
Năm 1930, Nguyễn Thị Minh Khai gia nhập Đảng
Cộng sản Đông Dương phụ trách tuyên truyền, huấn luyện đảng viên tại Trường
Thi, Bến Thủy (Nghệ An). Được sự đồng ý của tổ chức, Nguyễn Thị Minh Khai sang
Trung Quốc, được Nguyễn Ái Quốc đưa vào làm việc tại Văn phòng chi nhánh Ban
phương Đông của Quốc tế Cộng sản tại Hương Cảng và được Người trực tiếp huấn
luyện về lý luận cách mạng.
Năm 1931, Nguyễn Thị Minh Khai bị bọn mật thám Anh ở Hương Cảng
bắt giam, chuyển giao cho chính quyền Tưởng Giới Thạch tại Quảng Châu (Trung
Quốc) giam giữ. Bị tra tấn tàn bạo, nhưng đồng chí vẫn một lòng kiên trung
với cách mạng. Nhờ sự vận động của Quốc tế Cộng sản, đồng chí đã được trả tự
do. Ra tù, đồng chí tìm đến Thượng Hải bắt liên lạc với đồng chí Lê Hồng Phong
và hoạt động trong Ban lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương ở ngoài nước.
Cuối năm 1934, Nguyễn Thị Minh Khai cùng các
đồng chí Lê Hồng Phong, Hoàng Văn Nọn, là thành viên đoàn đại biểu Đảng Cộng
sản Đông Dương được cử đi dự Đại hội lần thứ bảy của Quốc tế Cộng sản tại
Moskva (Mát-xcơ-va).
Tháng 7 năm 1935, Đại hội khai mạc, Nguyễn Thị Minh Khai đã đọc
bản tham luận về “Vai trò phụ nữ Đông Dương tham gia đấu tranh cách mạng”. Đây
là sự kiện quan trọng khi lần đầu tiên trên diễn đàn Quốc tế Cộng sản, một phụ
nữ phương Đông, một nữ đảng viên ở Việt Nam cất tiếng nói dõng dạc vạch trần
chính sách xâm lược của bọn thực dân Pháp đối với Đông Dương, tố cáo tội ác dã
man của bọn cướp nước, nêu cao tinh thần đấu tranh cách mạng của phụ nữ Đông
Dương, trong đó có vai trò quan trọng của phụ nữ Việt Nam. Sau đó, đồng chí
tham gia học tập tại Đại học Lao động Cộng sản Phương Đông.
Năm 1937, đồng chí về nước và được Trung ương
Đảng phân công Ủy viên Xứ ủy Nam Kỳ. Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, thực
dân Pháp thẳng tay đàn áp phong trào cách mạng ở Đông Dương. Trung ương chủ
trương rút vào hoạt động bí mật và tập trung lực lượng chống chiến tranh đế
quốc, giành độc lập dân tộc. Nguyễn Thị Minh Khai được Xứ ủy chỉ định làm Bí
thư Thành ủy Sài Gòn – Chợ Lớn và kiêm chỉ đạo trực tiếp phong trào của Nhà máy
đóng tàu Ba Son và Công ty Hỏa xa Sài Gòn.
Giữa năm 1940, phát xít Nhật nhảy vào Đông
Dương, Xứ ủy đã họp nhận định tình hình và đề ra chủ trương khởi nghĩa giành
chính quyền. Sau cuộc họp, cơ sở Đảng bị lộ, ngày 30/7/1940, Nguyễn Thị Minh
Khai bị thực dân Pháp bắt, kết án tử hình.
Biết đồng chí là một cán bộ quan trọng của
Đảng, thực dân Pháp tra tấn hết sức dã man. Nhưng tất cả những thủ đoạn ấy vẫn
không lay chuyển được tinh thần bất khuất của người nữ chiến sĩ cộng sản với
lời thề:
“Dù đánh, dù treo, càng kiên quyết
Dù kìm, dù kẹp, chẳng sai lời
Hy sinh phấn đấu vì nhiệm vụ
Triệt để thực hành chết mới thôi”.
Giữa những ngày chết đi sống lại, Nguyễn Thị
Minh Khai đã lấy đinh khắc lên tường trại giam những dòng tâm huyết:
“Vững chí bền gan ai hỡi ai
Kiên tâm giữ dạ mới anh tài
Thời cuộc đẩy đưa người chiến sĩ
Con đường cách mạng vẫn chông gai”.
Không khuất phục được người chiến sĩ cộng sản
trẻ tuổi, sáng ngày 26/8/1941, thực dân Pháp đưa Nguyễn Thị Minh Khai cùng các
đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Hà Huy Tập, Phan Đăng Lưu, Võ Văn Tần ra trường bắn Bà
Điểm, Ngã ba Giồng, Sài Gòn – Gia Định (nay thuộc huyện Hóc Môn, Tp. Hồ Chí
Minh).
Nguyễn Thị Minh Khai ngã xuống khi mới 31 tuổi
trong niềm tiếc thương của các đồng chí, đồng bào. Trước pháp trường, đồng chí
hướng về phía đồng bào và nói lời tâm huyết cuối cùng: “Việc chúng tôi
làm là chính nghĩa. Vì muốn Tổ quốc chúng tôi được Độc lập, dân chúng tôi được
ấm no mà chúng tôi làm cách mạng. Chúng tôi không có tội gì. Thưa đồng bào!
Chúng ta phải tiêu diệt đế quốc, phong kiến thì đời sống mới sung sướng được”.
Tên tuổi và sự nghiệp cách mạng cao quý của
người chiến sĩ Nguyễn Thị Minh Khai được khắc ghi với tên những con đường,
trường học trên khắp mọi miền Tổ quốc để các thế hệ hôm nay và mai sau học tập,
noi theo tấm gương của người chiến sĩ kiên trung, bất khuất.